Các cuộc cách mạng trên thế giới mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khảo cứu



Trong các cuộc khảo cứu lịch sử về các cuộc cách mạng trên thế giới điều Nguyễn Ái Quốc chú ý nhất đó chính là vấn đề xây dựng nhà nước - một trong những vấn đề rất cơ bản của cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ giáo dục, sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn là người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ công hoà- Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là biểu tượng cao đẹp, vô tư, sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Đồng thời cũng là khát vọng độc lập, tự do của các dân tộc yêu chuộng hoà bình và công lý trên toàn thế giới.

Các cuộc cách mạng trên thế giới mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khảo cứu

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cách mạng thực chất là để giải quyết mâu thuẫn cơ bản trong xã hội. Nguồn: internet

 

 

         Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, đích đến đầu tiên của Người là nước Pháp với suy nghĩ: “Muốn đánh đuổi kẻ thù thì phải hiểu rõ kẻ thù”, quyết tâm của Người là giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, với thiên tài trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc bén, trải qua 30 năm bôn ba qua khắp 28 quốc gia của 4 châu lục, Nguyễn Tất Thành đã tiến hành các cuộc khảo cứu về các cuộc cách mạng trên thế giới để từ đó Người lựa chọn một con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - cứu nước theo con đường cách mạng vô sản.

         Trong các cuộc khảo cứu lịch sử về các cuộc cách mạng trên thế giới điều Nguyễn Ái Quốc chú ý nhất đó chính là vấn đề xây dựng nhà nước - một trong những vấn đề rất cơ bản của cách mạng. Theo Người, sau khi cách mạng thành công, một nhà nước mới được thành lập thì bản chất của nhà nước đó có phải là nhà nước của quảng đại quần chúng nhân dân hay không? Hay nói một cách khác, nhà nước đó quyền lực thuộc về nhân dân hay không? Để tìm ra câu hỏi đó, Nguyễn Tất Thành đã tìm hiểu các cuộc cách mạng sau:

         Thứ nhất, cuộc cách mạng Mỹ (1776), trong Tuyên ngôn của Cách mạng Mỹ có viết: “Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng… Hễ chính phủ nào có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đập đổ chính phủ ấy đi và gây nên chính phủ khác”. Sau khi khảo cứu một cách khách quan, cẩn trọng, Nguyễn Tất Thành đã đi đến một kết luận rất khách quan như sau: “Cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản….chưa phải cách mệnh đến nơi”. Điều đó có nghĩa là, giữa lý luận và thực tiễn còn một khoảng cách rất lớn. Tuy vậy, Tuyên ngôn của cách mạng Mỹ đã thể hiện tinh thần quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, nhưng trên thực tế ở Mỹ quyền lực nhà nước lại nằm trong “tay một bọn ít người” vì thế quần chúng nhân dân lao động vẫn chưa thực sự làm chủ .

         Thứ hai, cuộc cách mạng Pháp (1789), đây là cuộc cách mạng mà Nguyễn Tất Thành đặc biệt quan tâm bởi giá trị tư tưởng: Tự do, Bình đẳng, Bác ái đã tạo ấn tượng mạnh mẽ trong Người từ khi Người còn là học sinh học ở Trường Quốc học Huế, Người luôn thôi thúc phải dấn thân tìm hiểu đằng sau giá trị của Tự do, Bình đẳng, Bác ái nó là cái gì? Và nước Pháp đã làm như thế nào để có được Tự do, Bình đẳng, Bác ái? Nhân dân Pháp có thực sự được hưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái hay không? Và trên tất cả các câu hỏi đó có một điều làm Người luôn trăn trở đó là vì sao nước Pháp có Tự do, Bình đẳng, Bác ái mà dân tộc Việt Nam lại không? Chúng ta đều biết, cuộc cách mạng Pháp (1789)  là do giai cấp tư sản Pháp lãnh đạo nhân dân lao động đứng lên đấu tranh lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến.

Từ hai cuộc cách mạng trên, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra những kết luận có ý nghĩa quan trọng đó là:

Một là, lãnh đạo hai cuộc cách mạng trên đều do giai cấp tư sản ở mỗi nước.

Hai là, lực lượng tham gia cách mạng đều là nhân dân lao động

Ba là, kẻ thù cần đánh đổ là bọn phong kiến

         Tuy nhiên, ở hai cuộc cách mạng trên đều có một điểm chung đó là: “Tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân”.

         Một điều hết sức quan trọng mà Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra ở hai cuộc cách mạng này đó là: “Tiếng là cộng hoà dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.  Và Người đã đi đến một tổng kết có ý nghĩa chiến lược đó là: “Chúng ta đã hi sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hi sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phú”.

         Thứ ba, cuộc cách  mạng Tháng Mười Nga (1917), khi khảo cứu về cuộc cách mạng này Người nhận định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và đã thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc Pháp kheo khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đánh đổ tất cả các đế quốc chủ nghĩa và tư bản thế giới”.

         Từ sự khảo cứu ba cuộc cách mạng trên, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến kết luận: Cách mạng Việt Nam nên theo cách mạng Tháng Mười Nga, vì theo Người quyền lực nhà nước phải thuộc về số đông người và Người chọn kiểu nhà nước theo học thuyết Mác-Leenin nhưng Người không bê nguyên xi hình mẫu nhà nước vô sản của Xô Viết mà vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, một nước nông nghiệp, phân tán, nghèo nàn, lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội.

Phương Nam - Ths.NCS Ngỗ Văn Hùng

 




BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM






Tin mới nhất