fspin Bộ TN&MT ban hành 9 nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Nghị quyết 01 năm - Chuyên trang điện tử Sao Pháp Luật - Đơn vị trực thuộc Báo Pháp Luật Việt Nam

Bộ TN&MT ban hành 9 nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Nghị quyết 01 năm



(TN&MT) - Ngày 02/01/2019, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã ký ban hành Quyết định số 12/QĐ-BTNMT, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2019

(TN&MT) - Ngày 02/01/2019, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã ký ban hành Quyết định số 12/QĐ-BTNMT về việc ban hành Chương trình hành động của Bộ TN&MT thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2019.

Bộ TN&MT ban hành 9 nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Nghị quyết 01 năm

Trụ sở Bộ Tài nguyên và Môi trường

Theo đó, năm 2019, thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, với phương châm hành động của Chính phủ “Kỷ cương, liêm chính, hành động, bứt phá, sáng tạo, phát triển”.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đề ra nhiệm vụ và giải pháp chính, đặt ra các chỉ tiêu phát triển của ngành để thực hiện, nhằm đẩy nhanh hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, tập trung xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền các quy định pháp luật quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; nâng cao năng lực cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, thiết bị, công nghệ; 

Bộ Tài nguyên và Môi trường củng cố và hiện đại hóa mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về đo đạc bản đồ, viễn thám; quản lý tài nguyên: đất, nước, địa chất khoáng sản, tài nguyên môi trường biển; bảo vệ môi trường và nâng cao độ chính xác trong cảnh báo, dự báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, áp thấp nhiệt đới, lũ quét, lụt, sạt lở đất, hạn hán, ưu tiên tập trung đầu tư các dự án lớn, mang tính đột phá, tạo nguồn lực mạnh mẽ phục vụ đắc lực cho công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu… 

9 nhiệm vụ và giải pháp chung 

Bộ Tài nguyên và Môi trường yêu cầu các đơn vị trực thuộc Bộ, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nâng cao tinh thần trách nhiệm, tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả 9 nhiệm vụ chủ yếu sau: 

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện, trình Chính phủ, Quốc hội xem xét, cho ý kiến dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai; xây dựng dự án Luật sửa đổi một số điều Luật Bảo vệ môi trường. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản dưới luật theo hướng ưu tiên tháo gỡ các vướng mắc, bất cập và gắn với tăng cường phổ biến, thực thi pháp luật, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh. Ưu tiên bố trí nguồn lực cao nhất để nâng cao chất lượng xây dựng thể chế và văn bản pháp luật năm 2019. Xây dựng, điều chỉnh, triển khai hiệu quả các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành; 

Thứ hai, tổ chức triển khai các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 18/NQ-TW về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập. 

Bổ sung, hoàn thiện và ban hành các quy định, quy chế về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức, lao động hợp đồng theo quy định; tổ chức thí điểm thi tuyển lãnh đạo cấp vụ, cấp phòng; tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tại các đơn vị trực thuộc Bộ; tiếp tục thực hiện Chương trình hành động của Bộ thực hiện chính sách tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ và uy tín của cán bộ, công chức, viên chức ngành tài nguyên và môi trường. 

Thứ ba, triển khai sử dụng hoàn toàn văn bản hồ sơ điện tử, chứng từ điện tử, chứng thực chữ ký số trong công tác hành chính của Bộ; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong các hệ thống thông tin, các dịch vụ, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của Bộ; hoàn thiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Bộ kết nối với cổng Dịch vụ công quốc gia; hệ thống một cửa quốc gia, một cửa ASEAN; hệ thống một cửa điện tử; thực hiện công tác chỉ đạo điều hành giữa Bộ với các Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương qua các hệ thống thông tin. 

Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về tài nguyên và môi trường theo hướng phối hợp chặt chẽ từ cơ sở, tập trung vào những vấn đề bức xúc đang đặt ra như: Các dự án chậm đưa đất vào sử dụng để lãng phí đất đai, sử dụng đất đai trong cổ phần hoá doanh nghiệp; các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cao, chấp hành pháp luật về quản lý, thăm dò, khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản; vận hành điều tiết của các hồ chứa, khai thác, sử dụng nước mặt đối với hồ chứa thủy điện, thủy lợi. 

Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở từng cấp; tập trung giải quyết các vụ việc Thủ tướng Chính phủ giao và các vụ việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ, các vụ việc tồn đọng kéo dài. 

Thứ năm, tiếp tục đổi mới công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ; đào tạo, bồi dưỡng gắn với chuyển giao công nghệ, thực hiện cơ chế đấu thầu đặt hàng; nâng cao năng lực, tiềm lực khoa học công nghệ, đào tạo và bồi dưỡng của các Viện, Trường Đại học thuộc Bộ. 

Tăng cường phối hợp nghiên cứu khoa học và công nghệ, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh về tài nguyên và môi trường, tập trung trước mắt vào nghiên cứu để hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật xử lý, giải quyết các vướng mắc, bất cập trong công tác quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. 

Thứ sáu, triển khai xây dựng đề án tổng thể cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường kết nối liên thông với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các địa phương, các bộ, ngành phục vụ Chính phủ điện tử; triển khai cơ sở dữ liệu về đất đai, cơ sở dữ liệu quan trắc tài nguyên và môi trường, hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành về đồng bằng sông Cửu Long, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. 

Đẩy mạnh thực hiện Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo. 

Thứ bảy, tiếp tục hội nhập sâu, rộng và chủ động hơn trong các khuôn khổ hợp tác song phương, đa phương và các diễn đàn quốc tế về tài nguyên và môi trường; đặc biệt chú trọng đến việc tăng cường vai trò, sự tham gia và tiếng nói của Việt Nam trong các khuôn khổ hợp tác này; đẩy mạnh hợp tác về khoa học công nghệ và trao đổi thông tin pháp luật về tài nguyên và môi trường; vận động, thu hút, thực hiện và quản lý có hiệu quả nguồn hỗ trợ nước ngoài phục vụ cho công tác quản lý nhà nước của ngành tài nguyên và môi trường và thực hiện các nhiệm vụ nhằm phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. 

Thứ tám, siết chặt kỷ luật tài chính, điều hành thận trọng, linh hoạt và tiết kiệm, phù hợp với chính sách tài khóa và chính sách vĩ mô. Giám sát chặt chẽ đầu tư công, ngồn vốn vay, sử dụng và quản lý hiệu quả tài sản công, kiên quyết phòng chống tham nhũng, lãng phí. Triển khai nhanh, quyết liệt công tác phân bổ giao dự toán ngân sách nhà nước, đẩy nhanh tiến độ thưc hiện các dự án, phấn đấu giải ngân dự toán đúng tiến độ được giao. 

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và công khai minh bạch việc sử dụng ngân sách nước. Tiết kiệm chi thường xuyên, không bố trí cho các nhiệm vụ chưa thực sự cấp thiết; hạn chế mua sắm xe ô tô công và trang thiết bị đắt tiền, tiết kiệm tối đa chi phí tổ chức hội nghị, lễ hội, hội thảo, khánh thiết, công tác nước ngoài. Cân đối đủ nguồn lực đảm bảo thực hiện đúng lộ trình cải cách tiền lương và bảo hiểm xã hội theo theo Nghị quyết Trung ương, thực hiện các vấn đề cấp bách của ngành tài nguyên và môi trường theo chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các vấn đề khác của ngành, đặc biệt là các nhiệm vụ thuộc Chương trình hành động này và thực hiện cam kết quốc tế. Xử lý nghiêm các trường hợp cố tình chậm triển khai, thực hiện trong đó có trách nhiệm của người đứng đầu. 

Thứ chín, tăng cường tổ chức truyền thông, phổ biến các cơ chế chính sách, chủ trương lớn về tài nguyên và môi trường ngay từ khi chuẩn bị, ban hành và tổ chức triển khai; tổ chức hiệu quả các ngày lễ lớn, sự kiện về tài nguyên và môi trường trong năm; tuyên truyền phổ biến rộng rãi, hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp thực hiện chức năng giám sát, phản biện và tham vấn cộng đồng về tài nguyên và môi trường. 

Tổng kết các phong trào, mô hình bảo vệ môi trường có sự tham gia của cộng đồng và định hướng tuyên truyền các phong trào, mô hình cho giai đoạn tiếp theo; tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm cộng đồng về tác hại của chất thải túi ni lông khó phân hủy, phong trào chống rác thải nhựa, khuyến khích sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường; nâng cao nhận thức về tác hại của chất thải rắn sinh hoạt nông thôn, bảo vệ môi trường làng nghề trên phạm vi cả nước, đề xuất các giải pháp, mô hình quản lý, sử dụng có hiệu quả. 

Tổ chức thực hiện hiệu quả chương trình phối hợp công tác giữa Bộ và các địa phương, giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, các Bộ, cơ quan trung ương... 

Cũng trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2019 của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong năm 2019 đối với từng lĩnh vực quản lý chuyên ngành nhằm nhằm đẩy nhanh hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019.   

Năm 2018, Bộ TN&MT đã thực hiện thành công các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra, trong đó đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận: 

Bộ đã hoàn thành tổng kết Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X, trình Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 về chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045; 

Trình ban hành 01 luật, 11 nghị định, 02 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 31 Thông tư. Cắt giảm 62,6% điều kiện đầu tư kinh doanh; bãi bỏ, đơn giản hoá 51,3% thủ tục kiểm tra chuyên ngành. 

Cả nước đã hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận đối với 97,2% diện tích cần cấp để đất đai tham gia thị trường bất động sản. Việc thực hiện giao đất theo hình thức đấu giá đất đã tăng đóng góp nguồn thu từ đất cho ngân sách nhà nước; khắc phục được thất thoát. Đã cơ bản hoàn thành phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020) cấp tỉnh để làm cơ sở cho triển khai các dự án đầu tư. 

Công tác bảo vệ môi trường đã có những chuyển biến tích cực, có 121 KCN đầu tư lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục. Tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý và chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, tái chế tăng (85,5% ở khu vực đô thị, 55% khu vực ngoại thành). Công tác bảo vệ môi trường đã chuyển từ bị động giải quyết, khắc phục sang chủ động phòng ngừa; xu hướng suy giảm nhanh chất lượng môi trường đã được kiềm chế. 

Chất lượng công tác dự báo, cảnh báo thiên tai đã được nâng lên, độ chính xác trong bản tin dự báo bão của Việt Nam đã dần tiệm cận với trình độ dự báo bão của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới (Sai số dự báo trung bình trong các thời hạn trước 24, 48 và 72 giờ lần lượt trong trong khoảng 100-150km, 150-200km, 250-300km). 

Hải Ngọc - Châu Tuấn - Theo Báo TN-MT




BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM






Tin mới nhất