Công chứng, chứng thực: phải nắm bản chất mới loại được rủi ro pháp lý!



Hoạt động công chứng, chứng thực là nhu cầu thiết yếu của người dân nhằm bảo đảm tính pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại. Tuy nhiên, không ít người dân vẫn nhầm lẫn giữa công chứng và chứng thực, cho rằng hai hoạt động này là một. Nhằm giúp Quý độc giả nắm rõ bản chất, phân biệt được khi nào cần công chứng, giao dịch nào cần chứng thực để tránh những hậu quả pháp lý không đáng có, tác giả xin làm rõ tại bài viết sau:

Theo quy định tại Luật công chứng 2014 thì: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng, chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

Công chứng, chứng thực: phải nắm bản chất mới loại được rủi ro pháp lý!Công chứng, chứng thực là nhu cầu thiết yếu của người dân nhằm bảo đảm tính pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại. (Ảnh minh họa).

Trong khi đó, chứng thực được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp bản sao từ bản gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Không chỉ khác nhau về khái niệm, công chứng và chứng thực còn có sự phân biệt rõ về cơ quan thực hiện. Hoạt động công chứng do cơ quan bổ trợ tư pháp thực hiện bao gồm: Phòng công chứng (do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài sản riêng); Văn phòng công chứng (do 2 công chứng viên hợp danh trở lên thành lập theo loại hình tổ chức của công ty hợp danh, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn công chứng và các ngườn thu hợp pháp khác).

Còn thẩm quyền thực hiện hoạt động chứng thực được trao cho cơ quan nhà nước như Phòng Tư pháp, UBND xã (phường), cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài,... Tùy từng loại giấy tờ, việc chứng thực sẽ thực hiện ở các cơ quan khác nhau.

Trách nhiệm của người thực hiện việc công chứng và chứng thực cũng hoàn toàn khác nhau. Đối với việc công chứng, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó và qua việc bảo đảm tính hợp pháp để giảm thiểu rủi ro. Bản chất đảm bảo nội dung của một hợp đồng, một giao dịch và mang tính pháp lý cao hơn so với văn bản chứng thực.

Riêng đối với người thực hiện việc chứng thực, sẽ chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch,... Bản chất chứng nhận sự việc, không đề cập đến nội dung, chủ yếu chú trọng về mặt hình thức.

Giá trị pháp lý của văn bản công chứng được xác định như sau:

Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.

Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.

Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch.

Giá trị pháp lý của văn bản chứng thực được xác định:

Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản.

Hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

Ngoài ra, quy định thủ tục chứng thực hợp đồng, giao dịch đơn giản hơn khá nhiều so với thủ tục về công chứng phải đảm bảo đầy đủ các quy định theo Luật công chứng. Đồng thời, mức thu lệ phí chứng thực được quy định gồm 03 loại: Phí chứng thực bản sao từ bản chính, phí chứng thực chữ ký và phí chứng thực hợp đồng, giao dịch. Còn việc công chứng hợp đồng, mức phí sẽ được thu trên cơ sở giá trị tài sản, giá trị khoản vay hoặc giá trị của hợp đồng.

Nắm được bản chất và hình thức của việc công chứng và chứng thực sẽ giúp người dân có sự lựa chọn hợp lý trong việc thực hiện các giao dịch dân sự, từ đó tránh được sự nhầm lẫn, rủi ro không cần thiết. Hy vọng bài viết này có thể giúp bạn đọc phân biệt được hoạt động công chứng và chứng thực để có cách gọi đúng và áp dụng chính xác đối với từng tình huống cụ thể trong các giao dịch hằng ngày, giảm thiểu rủi ro về mặt pháp lý.

Trọng Nghĩa – Thanh Hải

 


Bài liên quan