ĐBSCL Thay đổi thế nào sau ba năm thực hiện nghị quyết 'VÀNG'?



Chuyên gia cho rằng triển vọng lúa nước ở ĐBSCL không mất đi, nghề trồng trọt, nuôi tôm cũng phát triển hơn nếu Chính phủ đầu tư đồng bộ và thực hiện quy hoạch sản xuất theo vùng.

Sau 3 năm khu vực thực hiện Nghị quyết 120 của Chính phủ về thích ứng với biến đổi khí hậu, GS Võ Tòng Xuân đánh giá đây như một chính sách gỡ bỏ “vòng kim cô” về trồng lúa cho vùng ĐBSCL.

Trục nông nghiệp xoay chuyển

Trong 3 năm trở lại đây, theo ông Xuân, bộ mặt sản xuất ở ĐBSCL ít nhiều đã có sự thay đổi tích cực khi Nghị quyết 120 đi vào đời sống. Thay vì phải trồng lúa quanh năm, họ được khuyến khích nuôi tôm, trồng cây ăn quả phù hợp theo mùa cũng như cơ cấu đất đai. Hiện diện tích lúa tôm đã đạt khoảng 200.000 ha.

“So với việc phải trồng lúa quanh năm trong khi xâm nhập mặn ngày càng khốc liệt, thì được thay đổi cơ cấu sản xuất sang tôm hoặc cây ăn trái là khoản đầu tư có lợi, phù hợp hơn rất nhiều”, GS Võ Tòng Xuân nói.

nghi quyet 120 voi Dong bang song Cuu Long anh 2

Năm 2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thị sát ĐBSCL bằng máy bay trực thăng trước ngày diễn ra Hội nghị Chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu với tầm nhìn tới năm 2100. Ảnh: VGP.

Trong khi đó, TS Huỳnh Thị Lan Hương, Phó viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu, cho biết Nghị quyết 120 đã tạo chuyển biến căn bản về mặt nhận thức, tư duy phát triển ĐBSCL theo hướng “thuận thiên”.

Từ chỗ phát triển dựa vào tài nguyên thiên nhiên ưu đãi như điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, nguồn lợi thủy sản, cơ cấu sản xuất ở ĐBSCL đã chuyển sang phát triển dựa vào năng suất lao động, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị.

Tư duy phát triển đã thay đổi toàn diện, coi nước mặn, nước lợ là tài nguyên để chuyển đổi cơ cấu, phát triển sản xuất hiệu quả. Sản vật cũng nhờ vậy mà đa dạng hơn.

"Trục nông nghiệp xoay chuyển, từ ưu tiên số 1 là lúa gạo đã chuyển sang ưu tiên thủy sản, trái cây. 3 năm qua, ngành nông nghiệp ở ĐBSCL đã có sự đầu tư bài bản về hạ tầng, kết hợp các yếu tố kĩ thuật để hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng", bà Hương nhận định.

2 năm xâm nhập mặn lịch sử

Dù đạt được nhiều thành quả quan trọng, theo TS Hương, trong 3 năm qua, ĐBSCL cũng đối mặt với nhiều thách thức đến từ những ảnh hưởng cực đoan từ biến đổi khí hậu.

Liên tiếp hai năm 2019-2020, khu vực hứng chịu 2 đợt xâm nhập mặn mùa khô ở mức nghiêm trọng nhất trong lịch sử, ảnh hưởng đến 10/13 tỉnh ĐBSCL. Khoảng 42,5% diện tích tự nhiên của vùng ĐBSCL có độ nhiễm mặn trên 0,4%.

Hạn, xâm nhập mặn cũng đã làm cho khoảng 96.000 hộ, tương đương khoảng 430.000 nhân khẩu đang sinh sống tập trung tại 7 tỉnh ven biển (Bến Tre, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Long An và Trà Vinh) thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng.

"ĐBSCL là vùng đất thấp ven biển của Việt Nam nên chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Ngoài tình trạng thiếu nước, nhiễm phèn, nhiễm mặn do hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô, ĐBSCL còn có nguy cơ mất đất do ngập lụt", bà Hương nói.

Bên cạnh đó, chuyên gia cho biết ĐBSCL cũng phải đối mặt với thách thức rất lớn đến từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở phía thượng nguồn sông Mekong, cũng như phát triển kinh tế - xã hội nội tại của chính khu vực.

Kiều Ninh tổng hợp