Hà Nội: Nghi án “phù phép” cấp CNQSD đất từ 415m2 thành 524 m2



Không những không trả lời thỏa đáng cho người dân, chính quyền phường Quảng An và chính quyền quận Tây Hồ, Hà Nội cũng im lặng một cách khó hiểu trước những phản ánh của báo chí về việc xác minh nguồn nguồn gốc đất, giải quyết khiếu nại cho người dân ở địa bàn.

Như báo PLVN đã thông tin ở kỳ trước, trong đơn gủi đến các cơ quan chức năng cũng như UBND quận Tây Hồ về việc Việc gia đình ông Nguyễn Văn Trung sinh năm 1961 có vợ là Nguyễn Thị Phượng và em trai là Nguyễn Văn Thanh có địa chỉ: 172 đường Xuân Diệu, cụm dân cư số 7, tổ 17, Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội được bố đẻ để lại thửa đất số 12 tờ bản đồ số 9 diện tích 683m2 được UBND xã Quảng An trích lục bản đồ ngày 01/01/1991.

Hà Nội: Sự im lặng khó hiểu của chính quyền quận Tây Hồ trước nghi án “phù phép” cấp CNQSD đất từ 415m2 thành 524 m2

Ngày 02/01/1993, gia đình có làm giấy viết tay bán cho anh Nguyễn Anh Hoàng (địa chỉ số 37 nhà C5 Khu tập thể Kim Liên) 300m2 đất tại địa chỉ trên. Đến tháng 5/2000, anh Thanh và vợ là Nguyễn Thị Cảnh tiếp tục bán bổ sung thêm diện tích đất tại địa chỉ trên (Hợp đồng bổ sung viết tay) cho anh Nguyễn Anh Hoàng và vợ là Lê Mai Phương lên tổng diện tích thành 415m2 (có vẽ sơ đồ hình thửa). số diện tích đất còn lại (có nhà từ trước) gia đình ông vẫn sử dụng, đóng thuế nhà đất theo qui định đến nay.

Khi UBND Phường triển khai dự án cải tạo đường Xuân Diệu gia đình ông Trung mới biết được nhà anh Hoàng đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) từ 415m2 nhà ông Trung bán thành 524m2 (cấp trùng lấn vào diện tích đất, nhà ông Trung đang ở và đóng thuế đất hàng năm) và đã được UBND Quận Tây Hồ cấp GCNQSDĐ ngày 19/9/2000 do Ông Trử Ngọc Tuất ký, hồ sơ sổ gốc số 1238/QĐ-UB. Trong khi đến năm 2000 gia đình ông Hoàng và Ông Thanh mới bán lần 02 cho anh Hoàng (với tổng 02 lần bán là 415m2) mà năm 1994 UBND phường Quảng An đã xác nhận cho gia đình anh Hoàng diện tích đất là 524m2 để xin làm thủ tục cấp GCNQSDĐ.

Bà Nguyễn Thị Phượng, vợ ông Trung bức xúc cho biết: “Hiện tại bên UBND phường Quảng An đã có công văn can thiệp với Ban Quản lý dự án Quận Tây Hồ không cho chúng tôi nhận tiền đền bù, hỗ trợ khi Giải phóng mặt bằng để mở đường vào diện tích nhà chúng tôi đang ở làm cho chúng tôi rất khó khăn khi sửa chữa phần diện tích đất còn lại để ổn định cuộc sống, hiện tại chồng tôi là Nguyễn Văn Trung đang phải nằm cấp cứu tại Bệnh viện Tim mạch Hà Nội vì bệnh hiểm nghèo không biết sống chết lúc nào… Chúng tôi đã gửi đơn từ ngày 24/9/2020 đến nay là ngày 30/10/2020 mà UBND Phường cũng như UBND Quận Tây Hồ không có phản hồi lại cho chúng tôi”.

Sau khi tiếp nhận phản ánh, PV đã rất nhiều lần liên hệ làm việc với UBND phường Quảng An, UBND quận Tây Hồ để xác minh làm rõ vụ việc, nhưng hơn 1 tháng trôi qua các cơ quan này vẫn “vô âm biệt tín”.

Để làm rõ hơn vụ việc trên, PV có trao đổi với Thạc Sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng - Phó Giám Đốc, Hãng Luật TGS- thuộc (Đoàn Luật sư TP.Hà Nội), ông Hùng cho biết: “hiện tại không ít các trường hợp đất liền kề bị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) chồng lấn, một diện tích đất có mặt trong hai sổ. Đây cũng là vấn đề cần được các cơ quan chức năng đưa ra giải pháp xử lý kịp thời. Trước hết cần làm rõ, thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 9, diện tích 683m2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCN) hay chưa?

Nếu thửa đất đã được cấp GCN, khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động, các cơ quan chức năng cần xem xét kỹ nội dung trong các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1993 và năm 2000 như: diện tích đất chuyển nhượng, ranh giới, mốc giới hai bên thỏa thuận. Từ đó so sánh với biên bản đo đạc trong hồ sơ để làm căn cứ thực hiện các thủ tục hành chính đối với diện tích đất chuyển nhượng. Nếu phát hiện có việc cấp GCN chồng lấn giữa các thửa đất thì cơ quan cấp GCN phải có quyết định thu hồi GCN cấp sai đó theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013.

Trong trường hợp thửa đất số 12 chưa được cấp GCN, ông Hoàng thực hiện thủ tục cấp GCN lần đầu với diện tích nhận chuyển nhượng cần xem xét các hồ sơ đăng ký cấp GCN. Theo quy định tại Điều 11 Thông tu 25/2014/TT-BTNMT và Khoản 2 Điều 8 của Thông tư 33/2017/TT-BTNMT thì khi thực hiện đo đạc ranh giới, mốc giới thửa đất các hộ giáp ranh liền kề phải được thông báo về kết quả đo đạc và nếu không có tranh chấp thì mới được phép cấp GCN. Do đó, nếu có sai sót trong quy trình cấp thì GCN có thể sẽ bị thu hồi theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 do không đủ điều kiện được cấp”.

Hà Nội: Sự im lặng khó hiểu của chính quyền quận Tây Hồ trước nghi án “phù phép” cấp CNQSD đất từ 415m2 thành 524 m2

Thạc sỹ, Luật Sư Nguyễn Đức Hùng - Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TGS (Thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội)

Ngoài ra, Thạc Sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng - Phó Giám Đốc, Hãng Luật TGS- thuộc (Đoàn Luật sư TP.Hà Nội) cũng nhấn mạnh về trách nhiệm của cá nhân ông Hoàng và các cơ quan chức năng liên quan :

Trách nhiệm của cá nhân: Từ khi Luật đất đai 1987 được ban hành, hành vi lấn, chiếm đất được xem là trái pháp luật và hoàn toàn bị nghiêm cấm. Cụ thể, Điều 5 Luật đất đai 1987 quy định “Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức”. Kế thừa điều đó, Luật đất đai qua các thời kỳ 1993, 2003 và 2013 đều có các điều khoản quy định về việc nghiêm cấm hành vi lấn chiếm đất đai. Theo đó, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm người vi phạm có thể bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Như vậy, nếu xác định rõ thửa đất ông Hoàng kê khai có mốc giới, ranh giới không đúng với thửa đất trong hợp đồng khiến cho diện tích tăng lên so với diện tích nhận chuyển nhượng, thể hiện đó là hành vi lấn đất thì ông Hoàng đã vi phạm quy định của pháp luật về đất đai và có thể phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình.

Trách nhiệm của các cơ quan chức năng: Nếu làm rõ có vi phạm trong quá trình cấp GCN cho ông Hoàng thì các cơ quan này có thể phải chịu trách nhiệm theo quy định tại Điều 86 Luật đất đai năm 1993 hay Điều 141, Luật đất đai năm 2003. Cụ thể: người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn giao đất, thu hồi đất, cho phép chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy định của pháp luật, bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai, quyết định xử lý trái pháp luật hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Ông Hùng cũng nhấn mạnh: Các bên liên quan cần nắm rõ các thông tin, thu thập đầy đủ các chứng cứ, có thể kiến nghị các cơ quan chức năng – nơi cấp GCN có sai sót để họ thực hiện kiểm tra, rà soát và có biện pháp xử lý đối với người có hành vi vi phạm. Nếu cơ quan chức năng có kết luận GCN đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì thông báo cho người sử dụng đất đó được biết. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không có đơn khiếu nại thì cơ quan cấp GCN ra quyết định thu hồi GCN đã cấp.

Trường hợp khi có thông báo và quyết định giải quyết của cơ quan chức năng nhưng người sử dụng đất không đồng ý thì có thể làm đơn khiếu nại quyết định hành chính đó theo quy định của Luật khiếu nại 2011.

Trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì người sử dụng có thể làm đơn khởi kiện vụ án dân sự hoặc vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án cấp có thẩm quyền giải quyết”.

Báo PLVN sẽ thông tin đến bạn đọc trong các bài tiếp theo.

Nhóm PV




BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM






Tin mới nhất