fspin Kỳ án ở Phú Mỹ - Vũng Tàu: Cả 3 cấp xét xử liệu có vi phạm tố tụng? - Chuyên trang điện tử Sao Pháp Luật - Đơn vị trực thuộc Báo Pháp Luật Việt Nam

Kỳ án ở Phú Mỹ - Vũng Tàu: Cả 3 cấp xét xử liệu có vi phạm tố tụng?



(PLVN) - Chỉ bằng một tờ giấy viết tay không đầy đủ, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thậm chí cả Tòa án nhân dân Cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh đều đưa ra phán quyết tước quyền sử dụng đất của cặp vợ chồng già đã ngoài 60 tuổi.

Theo nội dung đơn thư phản ánh của ông Nguyễn Hữu Hồng (sinh năm 1951) và bà Nguyễn Thị Lực (sinh năm 1954) - đều trú tại Tổ 1, thôn Đông Hải, xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông bà là chủ sở hữu hợp pháp của thửa đất số 83//21 có diện tích 2800m2 tại thông Đông Hải, xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T291094 cấp ngày 07/02/2002. Ông bà đã quản lý sử dụng liên tục từ xưa tới nay, và đều đóng đầy đủ các khoản thuế phí sử dụng đất theo quy định của nhà nước.

Kỳ án ở Phú Mỹ - Vũng Tàu: Cả 3 cấp xét xử liệu có sai phạm?

Năm 1992, vợ chồng ông Nguyễn Văn Thông (sinh năm 1949) và bà Đinh Thị Xuân (sinh năm 1949), trú tại số 177 đường Bình Giã, phường 8, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có thỏa thuận đứng tên giúp người thân mua 1 lô đất diện tích 2800m2 tại thôn Chu Hải, xã Tân Hải, huyện Tân Thanh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của vợ chồng ông Hồng, bà Lực với giá 16 chỉ vàng. Vợ chồng ông Hồng đã nhận 08 chỉ vàng (có biên nhận với chữ ký của ông Hồng), còn lại 08 chỉ hai bên thỏa thuận giao dịch nốt sau 02 tháng.

Tuy nhiên, sau đó 2 bên có thỏa thuận lại với nội dung ông Thông, bà Xuân và vợ chồng ông Hồng, bà Lực không mua bán toàn bộ diện tích đất 2800m2 mà chỉ mua bán một nửa là 1400m2, đồng thời thống nhất khi nào nhà nước có chủ trương làm giấy tờ nhà đất thì hai bên cùng nhau đi làm thủ tục để cấp QSD đất đứng tên cho vợ chồng ông Thông, bà Xuân. Tuy nhiên, sau đó người thân của vợ chồng ông Thông, bà Xuân không có nhu cầu mua đất nữa nên việc giao dịch được hủy bỏ, số vàng 08 chỉ đã nhận ông Hồng đề nghị trừ vào số tiền ông Thông thuê ông Hồng đóng cửa gỗ.

Tưởng như sự việc đã kết thúc nhưng năm 2007, ông Thông bất ngờ có đơn khiếu nại gửi tới UBND xã Tân Hải, yêu cầu ông Hồng chuyển giao quyền sử dụng 1400m2 đất như đã thỏa thuận cho ông Thông, bà Xuân. Sau nhiều lần hòa giải không thành, ông Thông và bà Xuân đã làm đơn tố cáo vợ chồng ông Hồng, bà Lực ra tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Căn cứ duy nhất của ông Thông, bà Xuân là mảnh giấy biên nhận 08 chỉ vàng mà ông Hồng đã ký vào ngày 06/5/1992.

Kỳ án ở Phú Mỹ - Vũng Tàu: Cả 3 cấp xét xử liệu có sai phạm?

Ở điểm này có một số vấn đề cần xác định như sau: (1) thời điểm giao dịch trên được thực hiện là vào năm 1992, sau ngày 1-7-1980 (ngày Hội đồng Chính phủ nay là Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước) đến trước ngày 15-10-1993 (ngày Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực). Pháp luật thời kỳ này nghiêm cấm việc mua, bán phát canh thu tô chuyển nhượng đất đai dưới mọi hình thức. Như vậy, giao dịch mua bán đất giữa ông Thông, bà Xuân và ông Hồng, bà Lực là hoàn toàn không hợp pháp.

Ngoài ra, văn bản biên nhận giữa ông Thông và ông Hồng chỉ là bản viết tay có chữ ký của hai người, không có bất kỳ chứng thực hoặc công chứng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào. Nên giấy biên nhận trên kỳ thực không có giá trị về mặt pháp lý (2). Hơn nữa, thời điểm đó ông Hồng, bà Lực cũng không hề có giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất nói trên. Căn cứ theo điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Luật đất đai 2013, ông Hồng và bà Lực không có quyền và không thể bàn giao quyền sử dụng mảnh đất nói trên cho vợ chồng ông Thông, bà Xuân (3):

Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Luật đất đai 2013 quy định:

“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.

Thêm vào đó, văn bản biên nhận do ông Thông, bà Xuân cung cấp chỉ có chữ ký của ông Hồng, hoàn toàn không đủ điều kiện xác nhận có hiệu lực do thiếu chữ ký của bà Lực, là vợ hợp pháp của ông Hồng và có đầy đủ quyền lợi hợp pháp đối với mảnh đất nằm trong giao dịch. Căn cứ theo Điều 213 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình, văn bản biên nhận trên hoàn toàn vô hiệu do thiếu chữ ký hoặc xác nhận của bà Nguyễn Thị Lực (4):
Bộ luật dân sự quy định sở hữu chung của vợ chồng

1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án.”

 

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

"1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình"

 

Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đất thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì phải có chữ ký của cả hai vợ chồng. 

Có thể thấy rõ 4 lỗ hổng rất lớn như trên trong vụ việc của hai hộ gia đình. Theo đó, ông Thông và bà Xuân hoàn toàn không đủ căn cứ để tranh chấp mảnh đất mà hiện tại gia đình ông Hồng, bà Lực đang quản lý và sử dụng. Tuy nhiên, rất bất ngờ là lần lượt các Quyết định sơ thẩm số 30/2016/DSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm số 08/QĐ-SCBSBA ngày 18/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Quyết định giám đốc thẩm số 178/QĐ-GĐT ngày 16/5/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh đều tuyên án ông Hồng và bà Lực có trách nhiệm giao lại mảnh đất tranh chấp cho gia đình ông Thông, bà Xuân.

Từ cơ sở các phán quyết này, ngày 02/10/2018 UBND thị xã Phú Mỹ đã ra quyết định số 825/QĐ-UBND, tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T291094 cấp ngày 07/02/2002 của gia đình ông Hồng, bà Lực, công nhận “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” (thực chất chỉ là mảnh giấy viết tay có chữ ký của ông Thông và ông Hồng), cho phép ông Nguyễn Văn Thông và bà Đinh Thị Xuân được quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng mảnh đất tranh chấp.

Chưa nói tới tính đúng sai của các phán quyết tại tòa án nhân dân các cấp, riêng Quyết định trên của UBND thị xã Phú Mỹ đã thể hiện sai phạm trong công tác hành chính. Cụ thể, Quyết định giám đốc thẩm 178/2018/DS_GDDT, ngày 16/05/2018 giữ nguyên bản án phúc thẩm, cho phép ông Thông bà Xuân sử dụng thửa 111, 157 tờ bản đồ 21 với điện tích 982m2 đất. Trong khi đó, Quyết định số 825/QĐ-UBND ngày 02/10/2018 của UBND thị xã Phú Mỹ lại tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T291094 của bà Nguyễn Thị Lực tại thửa 83 tờ bản đồ 21. Thửa đất này hoàn toàn không thuộc diện phán quyết của Tòa án, chỉ có diện tích 961m2 và hiện tại đang được ông Hồng, bà Lực thế chấp cho khoản vay của mình tại Ngân hàng Quân đội. Như vậy, Quyết định của UBND thị xã Phú Mỹ đã tuyên hủy sai thửa. Điều này không chỉ thể hiện sự tắc trách trong việc ra quyết định mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thi hành án và các khiếu nại nếu có về sau.

Ngoài ra, bản án phúc thẩm số 13/2017/DS-PT ngày 20/02/2017 do TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên xác định ông Thông sử dụng đất từ năm 1992 là không có cơ sở. Trong bản án, ông Thông xác nhận có biết việc gia đình ông Hồng, bà Lực được nhà nước cấp sổ và đã từng thực hiện việc chuyển nhượng, giao dịch vào năm 2007. Gia đình ông Hồng, bà Lực cũng đã nhiều lần thực hiện việc tách thửa và hiến đất cho nhà thờ cùng trường học lần lượt vào các năm 2002, 2005. Quá trình này ông Thông, bà Xuân đều biết nhưng không có bất kỳ ý kiến cũng như tranh chấp nào. Do vậy, việc hiện tại hộ gia đình này bất ngờ khiếu nại tranh giành quyền sở hữu đất là hết sức bất thường.

Lần lượt những quyết định vô cùng bất ngờ được đưa ra mà không hề có đầy đủ cơ sở, thậm chí còn có nhiều sai phạm không chỉ làm ông Hồng, bà Lực sững sờ mà còn gây ngạc nhiên lớn trong cộng đồng cư dân thị xã Phú Mỹ. Trong một vụ tranh chấp mà bên nguyên đơn chỉ có duy nhất một mảnh giấy viết tay không đầy đủ, Tòa án các cấp lại có thể căn cứ vào đó và một số nhận định mơ hồ (lời khai của ông Hồng, bà Lực không thống nhất do sự việc xảy ra đã gần 30 năm) để tước đi mảnh đất sinh sống, tài sản lớn nhất và gần như là duy nhất của cặp vợ chồng già đang phải gánh nhiều khoản nợ ngân hàng trên lưng. Những quyết định trên đã gây bức xúc không nhỏ, đồng thời cũng đặt ra một số nghi vấn về cơ sở pháp lý cũng như độ tin cậy của các cơ quan quản lý việc xét xử, tố tụng.

Rất mong các cơ quan chức năng liên quan và có thẩm quyền có thể vào cuộc, xem xét lại những phán quyết thiếu cơ sở nêu trên, trả lại công bằng và quyền, lợi ích hợp pháp cho người dân.

An Dân




BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM






Tin mới nhất