Nguyễn Dữ luận bàn về vua Hồ Hán Thương



Hồ Hán Thương là vị vua thứ 2 của triều Hồ trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Ông cũng từng đánh thắng quân Chiêm Thành. Về Hồ Hán Thương, lịch sử có nhiều bàn luận, chưa rõ đích xác.

Nguyễn Dữ luận bàn về vua Hồ Hán Thương

Hình minh hoạ Hồ Hán Thương. Nguồn internet

Hồ Hán Thương là con thứ của Hồ Quý Ly. Mẹ Hồ Hán Thương là con gái của Trần Minh Tông – vị vua triều Trần. Hồ Hán Thương là vị vua thứ 2 và cũng là vị vua cuối cùng của triều Hồ. Sau đó, gia đình ông bị quân Minh (Trung Quốc) bắt đi.

Có thuyết nói, Hồ Hán Thương từng bị đày ra Quảng Tây, sau bị giải về Kim Lăng (Trung Quốc) rồi bị giết. Năm sinh, năm mất của Hồ Hán Thương chưa được rõ. Với những gì sử sách lưu lại, thì thấy rằng, nhà Hồ đã cướp ngôi nhà Trần. Triều đại Hồ tồn tại không được lâu, 1400–1407, với quốc hiệu là Đại Ngu.

Nguyễn Dữ là nhà văn sống sau triều Hồ không lâu, trong truyện Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na thuộc tập Truyền kỳ mạn lục, qua lời ông lão tiều phu, Nguyễn Dữ đã có những luận bàn về vua Hồ Hán Thương.

Tiều phu ở ngọn núi Na (Thanh Hoá), “núi có cái động, dài mà hẹp, hiểm trở mà quạnh hiu, bụi trần không bén tới, chân người không bước tới. Hàng ngày, trong động có người tiều phu gánh củi đi ra, đem đổi lấy cá và rượu, cốt được no say chứ không lấy một đồng tiền nào. Hễ gặp ông già, trẻ con dưới đồng bằng lại nói những chuyện trồng dâu, trồng gai một cách vui vẻ. Ai hỏi họ tên, nhà cửa, tiều phu chỉ cười không trả lời. Mặt trời ngậm núi, lại thủng thỉnh về động. Đương thời cho là người thuộc hạng Thần Môn, Tiếp Dư chứ Thái Hòa trở xuống đều không đủ kể”.

Một lần Hồ Hán Thương đi săn, thấy tiều phu hát, cho là bậc chân nhân, kỳ tài nên cho quan hầu là Trương công đi theo mời lại. Mãi tới “bóng chiều gác đầu núi, cây cỏ đã bắt đầu lờ mờ” mới gặp được vị tiều phu.

Giữa Trương và tiều phu đã có những đối đáp qua lại. Trương thì muốn mời tiều phu ra giúp nước. Tiều phu thì không muốn, chỉ mong làm kẻ ẩn sĩ. Tiều phu giảng giải cho Trương:

“Ta là kẻ dật dân trốn đời, ông lão già lánh bụi, gửi tính mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm sinh nhai trong búa gió rìu trăng; ngày có lối vào làng say, cửa vắng vết chân khách tục; bạn cùng ta là hươu nai tôm cá, quẩn bên ta là tuyết gió trăng hoa; chỉ biết đông kép mà hè đơn, nằm mây mà ngủ khói; múc khe mà uống, bới núi mà ăn; chứ có biết gì đâu ở ngoài là triều đại nào, vua quan nào?”

“Kẻ sĩ ai có chí nấy, hà tất phải vậy! Cho nên Nghiêm Tử Lăng không đem chức Gián nghị ở Đông đô đánh đổi khỏi sóng sông Đồng, Khương Bá Hoài không đem bức tranh vẽ của thiên tử làm nhơ non nước Bành Thành. Tài ta tuy kém, so với người xưa chẳng bằng được, nhưng may lại giàu hơn Kiềm Lâu, thọ hơn Vệ Giới, no hơn Viên Tinh, đạt hơn Phụng Thiến, kể thì cũng đã được trời đất ban cho khá nhiều. Nếu lại còn tham cầu những cái ở ngoài phận mình, len lỏi vào đường làm quan, chẳng những xấu hổ với các bậc tiên hiền, lại còn phụ bạc với vượn hạc ở trong núi. Vậy xin ông đi đi, đừng nói lôi thôi gì nữa.”

Đáng chú ý nhất là qua lời tiều phu, Nguyễn Dữ đã luận bàn về vua Hồ Hán Thương cũng như các vị quan của triều Hồ:

“Ta tuy chân không bước đến thị thành, mình không vào đến cung đình, nhưng vẫn thường được nghe tiếng ông vua bây giờ là người thế nào. Ông ấy thường dối trá, tính nhiều tham dục, đem hết sức dân để dựng cung Kim Âu, dốc cạn của kho để mở phố Hoa Nhai; phao phí gấm là, vung vãi châu ngọc, dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn, hình ngục có của đút là xong, quan chức có tiền mua là được, kẻ dâng lời ngay thì giết, kẻ nói điều nịnh thì thưởng; lòng dân động lay, nên đã xảy ra việc quân sông Đáy bờ cõi chếch mếch nên đã mất dải đất Cổ Lâu. Vậy mà các kẻ đình thần trên dưới theo hùa, trước sau nối vết. Duy có Nguyễn Bằng Cử có lượng nhưng chậm chạp; Hoàng Hối Khanh có học nhưng lờ mờ; Lê Cảnh Kỳ giỏi mưu tính nhưng không quyết đoán; Lưu Thúc Kiệm quân tử nhưng chưa được là bậc nhân; còn ngoài ra phi là đồ tham tiền thì là đồ nát rượu; phi là đồ chỉ lấy yên vui làm thích thì là tuồng lấy thế vị mà khuynh loát nhau; chứ chưa thấy ai biết những kế lạ mưu sâu để lo tính cho dân chúng cả. Nay ta đương náu vết ở chốn núi rừng, lo lảng tránh đi chẳng được, há lại còn xắn áo mà lội nữa ư?Xin ông vui lòng trở về, làm ơn từ chối hộ kẻ cư sĩ này. Ta không thể đem hòn ngọc Côn Sơn cho nó cùng cháy trong ngọn lửa Côn Sơn được”.

Trương về nói lại với Hồ Hán Thương những lời trên. Hán Thương không bằng lòng những nhận xét đó, lại sai Trương đi mời tiều phu lần nữa, nhưng đến nơi chỉ thấy vách đá đề hai câu thơ:

“Kỳ La cửa bể hồn thơ đứt

Cao Vọng đầu non dạ khách buồn”.

“Hán Thương cả giận, sai đốt cháy núi; núi cháy hết vẫn không thấy gì, chỉ thấy con hạc đen lượn trên không bay múa. Sau cha con họ Hồ gặp phải tai họa đều đúng như lời thơ”.

Cuối truyện có lời bình: “Có cái thần để biết việc sau, có cái trí để giấu việc trước, đó là việc của thánh nhân; tiều phu tuy là bậc hiền nhưng đâu đã được dự đến hạng ấy. Tuy nói việc táng bại của nhà Hồ, đúng như là bói cỏ, bói rùa, nhưng chẳng qua là nghiệm với lẽ trời, chứng với lòng người, nói nhiều may ra thì tin, đó là cái lẽ đời như vậy. Kẻ làm vua chúa nên lấy sự chính lòng mình để làm cái gốc chính triều đình, chính trăm quan, chính muôn dân, đừng để cho kẻ xử sĩ phải bàn ra nói vào là tốt hơn cả”.

Ở đây, ta thấy Nguyễn Dữ chê trách Hồ Hán Thương và các quan lại nhà Hồ. Qua đây, ông cũng bàn về đạo làm người. Qua tiều phu, ta có cảm tưởng như, tiều phu đó có bóng dáng Nguyễn Dữ. Vì có thuyết nói rằng, Nguyễn Dữ từng về ở ẩn trong núi vùng Thanh Hoá và viết Truyền kỳ mạn lục.

 


Bài liên quan