Phân chia tài sản sau ly hôn tại quận Thanh Xuân - Hà Nội: Quyền lợi hợp pháp của công dân có bị xâm hại?



Sau khi nhận thấy có nhiều quyết định bất hợp lý ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bản thân theo thủ tục giám đốc thẩm đối với 2 bản án 154/2020/ST-HNGĐ ngày 20 /03/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân và 153/2020/HNGĐ-PT ngày 18/09/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, ông Phạm Xuân Bình (214 Thượng Đình, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội) đã có đơn đề nghị hoãn thi hành án, xem xét lại quyết định của hai bản án trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Quyền lợi của người có đóng góp bị bỏ qua?

Theo đơn thư gửi đến báo PLVN, ông Phạm Xuân Bình và Bà Đào Thị Thanh Xuân là vợ chồng có đăng ký kết hôn và tài sản chung gồm quyền sử hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở là 66,8m2 tại số 214 Thượng Đình, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Sau khi ly hôn bà Xuân có đơn khởi kiện vụ án chia tài sản chung của vợ chồng nhưng ông Bình không đồng ý vì cho rằng bà  Xuân không có tài sản gì chung với mình. Mặt khác, mẹ đẻ ông Bình sau khi mất không để lại di chúc nên theo ông, phần tài sản  của mẹ, ông phải được hưởng một phần.

Cụ thể, năm 2006 ông Bình được bố mẹ đẻ là cụ Phạm Sen và cụ Trần Thị Sịnh viết giấy tặng riêng 43,9m2 đất, phần còn lại vẫn đứng tên bố mẹ đẻ. Ông Bình cũng cho biết, việc Bà Đào Thị Thanh Xuân có tên trong hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do chính ông kê khai. Tuy nhiên, việc kê khai này là do yêu cầu của cán bộ hướng dẫn. Trên sổ đỏ hiện đứng tên ba người: Ông Phạm Sen, ông Phạm Xuân Bình và bà Đào Thị Thanh Xuân.

Điều đáng nói, ông Bình khẳng định, phần xây dựng riêng tại tầng 1 là do vợ chồng ông Phạm Xuân Bình và bà Bùi Thị Thành (vợ hợp pháp hiện tại) trực tiếp xây dựng, đầu tư để kinh doanh dịch vụ với giá trị rất lớn, xuất phát từ nguồn tiền riêng của vợ chồng ông (có tài liệu chứng minh). Tuy nhiên, trong quá trình xét xử tại 2 phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã bỏ qua phần xây dựng tại tầng 1 từ nguồn tiền riêng của vợ chồng ông Bình và mang chia cho người khác, cụ thể là bà Bùi Thị Thành.

 

Phân chia tài sản sau ly hôn tại quận Thanh Xuân - Hà Nội: Quyền lợi hợp pháp của công dân có bị xâm hại?

Mặt tiền của căn nhà này đang được định giá bằng với mặt sau phía trong ngõ

Bản án Sơ thẩm và Phúc thẩm đã thỏa đáng?

Sau khi nhận được quyết định trong bản án sơ thẩm số 154/2020/ST-HNGĐ ngày 20 /03/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và bản án phúc thẩm số 153/2020/HNGĐ-PT ngày 18/09/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, ông Bình cho rằng hai bản án trên đã có những điều không hợp lý ảnh hưởng nghiêm trọng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của ông.

Trong cả hai bản án, Hội đồng xét xử định giá diện tích đất thuộc quyền sử dụng chung cần chia là 150.000.000 đồng/m2. Quyền sử dụng đất được chia như sau: Mở lối đi chung có chiều rộng 1m, dài 5.359m, diện tích 6.1m2 bên tay phải thửa đất đứng từ đường Thượng Đình nhìn vào tính từ tường ngoài đến cầu thang. Chia cho cụ Phạm Sen và bà Đào Thị Thanh Xuân diện tích 20.9m2 đất sử dụng riêng phía ngoài (mặt đường) có giá trị quyền sử dụng đất: 20.9m2 x 150.000.000 đồng/m2 = 3.135.000.000 đồng.  Chia cho ông Phạm Xuân Bình diện tích 20.3m2 đất sử dụng phía trong (đi vào trong ngõ sâu) có giá trị quyền sử dụng đất: 20.3m2 x 150.000.000 đồng/m2 = 3.045.000.000 đồng.

Ông Bình cho rằng Hội đồng xét xử đang có sự phi lý trong việc định giá đất khi chia tài sản chung. Ông bức xúc chia sẻ “Không thể có chuyện giá trị 1m2 đất ở hai vị trí khác nhau, một là ngoài mặt đường chính tiện kinh doanh, đi lại với 1m2 đất trong ngõ hẹp, sâu mà giá lại như nhau được”.

Theo điểm d khoản 1 Điều 112 Luật Đất đai năm 2013 về nguyên tắc, phương pháp định giá đất có quy định các thửa đất liền nhau chỉ có mức giá như nhau khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện: Có cùng mục đích sử dụng; Có cùng khả năng sinh lợi như nhau; Có cùng thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau. Theo đó, việc Hội đồng xét xử định giá đất trên 1m2 có giá trị bằng nhau cũng dẫn đến những ảnh hưởng trong việc xác định số tiền chênh lệch mà các bên phải hoàn trả cho nhau. Theo ông Bình đất riêng phía trong ngõ chắc chắn phải có giá trị thấp hơn nhiều so với đất ngoài măt đường nếu được định giá một cách khách quan. Như vậy, số tiền chênh lệch mà ông phải thanh toán 1.678.992.813 đồng là không hợp lý.

Ông Bình cho biết, trước khi xảy ra tranh chấp mảnh đất của gia đình đang được sử dụng kinh doanh dịch vụ và là nguồn thu chính của gia đình trong đó có ông. Ông chia sẻ “Tôi chỉ có 1 cơ sở kinh doanh thu nhập chính tại 214 Thượng Đình. Đây là nguồn thu chính để duy trì cuộc sống của gia đình tôi nếu chia thế này tôi sẽ gặp vô vàn khó khăn sau này”. Việc Hội đồng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm chia phần nhà đất phía sau đã làm mất hoàn toàn nguồn thu nhập chính như ông đã chia sẻ. Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được hướng dẫn bởi Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Theo đó, phải bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.

Thiết nghĩ, quyết định của Hội đồng xét xử liệu có đang thiên về một bên mà “bỏ quên” lợi ích của bên còn lại? Quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bình bị ảnh hưởng nghiêm trọng phải chăng đã có sự tác động từ một phía?

Việc ông Phạm Xuân Bình đề nghị Tòa án xem xét lại bản án hoàn toàn có đầy đủ căn cứ và điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Điều 326 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

Báo PLVN sẽ tiếp tục cập nhật  thông tin đến bạn đọc.

Điều 326. Căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật này hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 327 của Bộ luật này; trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề nghị.

Nhóm PV